Thứ Sáu, 29 tháng 6, 2018


TIÊM CHỦNG và những điều cần biết


Khám sàng lọc trước tiêm chủng
1. Tại sao cần khám sàng lọc trước khi tiêm chủng
Khám sàng lọc trước khi tiêm chủng là việc rất cần thiết nhằm phát hiện những bất thường cần lưu ý để quyết định cho trẻ (người được tiêm) tiêm chủng, tạm hoãn việc tiêm chủng hay không được tiêm một loại vắc xin nào đó.
Vì vậy, người nhà của trẻ hay người đi tiêm chủng và bác sĩ cần hợp tác với nhau để đảm bảo việc tiêm chủng là đúng thời điểm, hiệu quả và an toàn.
Kết quả khám sàng lọc trước tiêm chủng được căn cứ trên những thông tin người nhà hay người đi tiêm chủng cung cấp cho bác sĩ và những thông tin bác sĩ phát hiện sau khi thăm khám.
2. Những thông tin cần thông báo cho bác sĩ là gì?
Với trẻ nhỏ, bố mẹ cần thông báo cho bác sĩ các vấn đề về sức khỏe và lịch sử tiêm chủng như:
  • Trẻ đã đủ cân nặng 2.5kg chưa? (Nếu là trẻ sơ sinh)
  • Trẻ có bú (ăn), uống, ngủ, chơi bình thường không?
  • Trẻ có đang sốt hay mắc bệnh gì không?
  • Trẻ có đang dùng thuốc hoặc sử dụng phương pháp điều trị nào không?
  • Trẻ có tiền sử dị ứng với thuốc hay thức ăn nào không?
  • Trẻ có tiền sử dị ứng với vắc xin hoặc có phản ứng nặng ở các lần tiêm trước hay không?
Với người lớn đi tiêm chủng cũng cần thông báo cho bác sĩ các vấn đề sức khỏe của mình bao gồm các bệnh đã mắc, những loại thuốc – liệu pháp điều trị đang dùng, loại vắc xin đã tiêm gần đây (trong vòng 4 tuần) và phản ứng của cơ thể ở những lần tiêm chủng trước hoặc các phản ứng, dị ứng đã gặp.
Với phụ nữ, ngoài các thông tin cơ bản như trên, cần thông báo cho bác sĩ biết mình đang có thai hay không, hoặc thời gian dự định có thai.
Bác sĩ sẽ khám như thế nào
Việc khám sàng lọc trước tiêm chủng được thực hiện theo đúng quy định nghiêm ngặt của Bộ Y Tế (Thông tư 12/2014/TT-BYT ngày 20 tháng 3 năm 2014), tập trung vào việc đánh giá tình trạng sức khỏe chung của cơ thể bao gồm:
  • Đo thân nhiệt
  • Đánh giá tri giác
  • Quan sát nhịp thở, nghe phổi
  • Nghe tim
  • Phát hiện các bất thường khác

Hướng dẫn trước khi tiêm chủng
Với trẻ nhỏ:
  • Bố mẹ cần theo dõi tình trạng sức khỏe của bé để thông báo cho bác sĩ trong quá trình khám sàng lọc trước khi tiêm.
  • Nếu trẻ chưa đạt tiêu chuẩn về cân nặng hoặc có một trong các biểu hiện bệnh lý thì phải trì hoãn lịch tiêm cho đến khi trẻ đủ cân nặng, hết sốt hoặc khỏi bệnh.
  • Nếu trẻ có các phản ứng nặng sau tiêm ở các lần tiêm trước thì sẽ ngưng tiêm các mũi tiếp theo (nếu có).
  • Khi đưa trẻ đi tiêm chủng, bố mẹ (người chăm sóc) cần mang đầy đủ sổ/phiếu tiêm chủng và thông báo đầy đủ tình trạng sức khỏe, các loại thuốc đang sử dụng để bác sĩ theo dõi và phối hợp cùng bố mẹ đưa ra lịch tiêm chủng hợp lý, tránh bỏ sót hay nhầm lẫn.
  • Tại cơ sở tiêm chủng, bác sĩ sẽ tiến hành khám sàng lọc cho trẻ và đánh giá toàn diện thể trạng của trẻ. Căn cứ vào kết quả khám và lịch sử tiêm chủng, bác sĩ sẽ phối hợp cùng bố mẹ lựa chọn mũi tiêm tiếp theo.
  • Bố mẹ nên tuân thủ lịch tiêm chủng theo lứa tuổi đã được Bộ Y Tế và các chuyên gia khuyế cáo. Việc tiêm chủng đúng thời điểm sẽ giúp tạo miễn dịch hiệu quả cho trẻ, tránh trường hợp mắc bệnh có thể xảy ra nếu chưa kịp tiêm chủng.
Với người lớn
Người lớn đi tiêm chủng cũng cần thông báo cho bác sĩ các vấn đề sức khỏe của mình bao gồm các bệnh đã mắc, các loại thuốc – liệu pháp điều trị đang dùng, loại vắc xin đã tiêm gần đây (trong vòng 4 tuần) và phản ứng của cơ thể ở những lần tiêm chủng trước.

VI KHUẨN PHẾ CẦU GIẾT HÀNG TRIỆU TRẺ EM MỖI NĂM VỚI 4 BỆNH NGUY HIỂM

Viêm phổi, viêm màng não, viêm tai giữa và nhiễm khuẩn huyết là 4 căn bệnh nguy hiểm do vi khuẩn phế cầu gây nên khiến nhiều trẻ thiệt mạng. Trong đó, viêm tai giữa có thể khiến trẻ giảm thính lực, 3 bệnh còn lại viêm phổi, viêm màng não và nhiễm khuẩn huyết đều có thể khiến bệnh nhi tử vong.
4 bệnh nguy hiểm cho trẻ do phế cầu khuẩn
Sau 17 ngày hôn mê và tay chân chuyển dần sang màu đen vì hoại tử, Bé Taylor Marshall, 8 tháng tuổi ở Anh phải cắt toàn bộ 2 bàn tay và 1 chân sau khi bị viêm màng não do phế cầu khuẩn (Streptococcus pneumoniae) – thủ phạm gây ra 11% tổng số ca tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi.
Vi khuẩn phế cầu giết HÀNG TRIỆU TRẺ EM MỖI NĂM với 4 bệnh nguy hiểm
Chị Terri Lewsley, mẹ bé cho biết, Taylor bắt đầu phát bệnh với triệu chứng ban đầu không khác gì các bệnh lý thông thường: bé sốt cao nhưng cơ thể lạnh toát, bỏ ăn bỏ bú và người lả đi vì mệt. Khi nhập viện, cơ thể bé đã bắt đầu chuyển sang màu đen vì hoại tử. Mẹ bé chết lặng khi các bác sĩ kết luận Taylor chỉ còn vài giờ sống, nhưng thật không ngờ cậu bé dũng cảm đã chiến đấu rất kiên cường và hồi phục kỳ diệu sau 7 tháng điều trị trong bệnh viện.
Vi khuẩn phế cầu giết HÀNG TRIỆU TRẺ EM MỖI NĂM với 4 bệnh nguy hiểm
Taylor rơi vào hôn mê suốt 17 ngày khi đang điều trị ở bệnh viện. Những phần chân tay bé bị hoại tử dần chuyển thành màu đen, buộc phải cắt bỏ
Vi khuẩn phế cầu giết HÀNG TRIỆU TRẺ EM MỖI NĂM với 4 bệnh nguy hiểm
Taylor phải chập chững những bước đi đầu tiên với 1 bên chân giả và 1 bên chân phải bó nẹp toàn bộ vì căn bệnh viêm màng não
Phế cầu là một tác nhân vi khuẩn rất nguy hiểm, thường gây bệnh ở trẻ nhỏ dưới 5 tuổi. Đó là các bệnh lý của đường tai – mũi – họng như viêm họng, viêm mũi, viêm tai giữa, nặng hơn nữa là viêm phổi, viêm màng não, nhiễm khuẩn huyết; trong đó có 4 bệnh nguy hiểm nhất là viêm phổi, viêm màng não, nhiễm khuẩn huyết và viêm tai giữa.
Viêm phổi do phế cầu có tỷ lệ tử vong 10-20%, trẻ dưới 2 tuổi dễ có nguy cơ diễn tiến nặng. Cứ 20 giây trôi qua lại có một trẻ em trên thế giới tử vong vì viêm phổi. Tại Việt Nam ước tính hằng năm có khoảng gần 3 triệu trẻ em dưới 5 tuổi mắc bệnh viêm phổi. Chỉ riêng Bệnh viện Nhi Đồng 1, trung bình mỗi ngày có khoảng 40 bé bị bệnh đường hô hấp điều trị nội trú, phần lớn các em bị viêm phổi. Khi bị viêm phổi do nhiễm khuẩn phế cầu, trẻ thường có triệu chứng ban đầu là ho nhiều, sốt cao, ớn lạnh, khóc quấy, bỏ bú, trẻ có biểu hiện thở nhanh, suy kiệt vì không thể ăn uống. Khi trẻ có biểu hiện sốt cao, tím tái, suy hô hấp là bệnh đã rất nặng.
Trong 4 bệnh do phế cầu khuẩn gây nên, viêm màng não là bệnh khó phát hiện nhất. Phế cầu xâm nhập vào não sẽ gây viêm màng não với tỉ lệ tử vong cao và để lại nhiều di chứng nguy hiểm. Với bé lớn, biểu hiện của viêm màng não có thể là đau đầu và nôn ói. Với trẻ nhỏ, triệu chứng thường thấy là trẻ khóc đêm thường xuyên và bỏ bú kéo dài, sốt cao, tiêu chảy, nôn ói… rất dễ nhầm lẫn với các bệnh về tiêu hóa. Khi bệnh kịch phát, trẻ sẽ đau đầu dữ dội, co giật, thở gấp hay rối loạn tri giác. Nếu không phát hiện và điều trị kịp thời sẽ dẫn đến hôn mê chỉ trong 48 giờ thậm chí tử vong, nếu sống cũng để lại di chứng sau điều trị như điếc, mù, động kinh, chậm phát triển thần kinh vận động, tổn thương não vĩnh viễn dẫn đến trẻ kém phát triển hoặc yếu liệt chi hay nửa người…
Vi khuẩn phế cầu xâm nhập vào máu gây sốc do nhiễm khuẩn huyết, rất nguy hiểm với những trường hợp đã có sẵn những bệnh lý khác, và khiến khoảng 20% bệnh nhi tử vong. Các dấu hiệu thường gặp khi trẻ bị nhiễm khuẩn huyết rất dễ khiến các bậc phụ huynh nhầm với những bệnh lý khác: trẻ ngủ li bì, chán ăn, bỏ bú, sốt cao, da dẻ bé xanh xao, nhợt nhạt như mất máu, đau đầu, đau nhức cơ kèm ho…
Cuối cùng, vi khuẩn phế cầu còn gây viêm tai giữa cấp với tần suất mắc rất cao ở trẻ nhỏ, khoảng 80% trẻ em dưới 3 tuổi mắc bệnh này khiến thính lực của các em cũng đã bị ảnh hưởng. Biểu hiện thường thấy khi trẻ bị viêm tai giữa cấp là trẻ quấy khóc, bú kém hay bỏ bú, sốt, đau tai dữ dội khi kéo tai trẻ, dụi tai, buồn nôn, nôn, tiêu chảy… Trẻ hay khóc bất thường, khó ngủ, thường xuyên dùng tay kéo hay gãi tai, ở bệnh này chỉ cần người lớn kiểm tra tai của bé sẽ phát hiện bệnh.
Tiêm vắc xin là cách phòng bệnh tối ưu nhất
Vi khuẩn phế cầu (Streptococcus pneumoniae) thường trú trong hầu họng người lớn và trẻ em.
Tác nhân phế cầu là vi khuẩn nguy hiểm, ngoài việc gây bệnh ở nhiều cơ quan trong đó có viêm phổi và viêm màng não là rất nặng, còn khó điều trị vì hiện nay vi khuẩn này đã kháng nhiều loại kháng sinh thông thường. Thời gian điều trị kéo dài, tốn kém tiền của và thời gian do phải dùng kháng sinh mạnh, đôi khi phải kéo dài trên 4 tuần. Do đó, việc phòng ngừa các bệnh do phế cầu khuẩn cho trẻ nhỏ là rất quan trọng.
Theo các chuyên gia bệnh truyền nhiễm, để phòng bệnh, phụ huynh cần phải giữ ấm cơ thể trẻ nhỏ trong mùa mưa và mùa lạnh, cho bé bú mẹ trong 6 tháng đầu đời, bổ sung đầy đủ các chất dinh dưỡng, đặc biệt với trẻ từ 6 tháng đến 2 tuổi, giữ gìn vệ sinh môi trường sống trong lành và giữ vệ sinh cơ thể trẻ là một trong những cách có thể làm giảm được nguy cơ mắc các bệnh do phế cầu khuẩn gây nên.
Tuy nhiên các biện pháp thụ động như rửa tay, mang khẩu trang, giữ gìn vệ sinh ăn uống đúng để tăng sức đề kháng chỉ là một phần. Biện pháp phòng ngừa tốt nhất vẫn là chủ động tiêm vắc xin.
Hiện nay vắc xin Synflorix được chỉ định cho trẻ nhỏ từ 6 tuần đến 5 tuổi để phòng ngừa các bệnh do phế cầu Streptococcus pneumoniae tuýp huyết thanh 1, 4, 5, 6B, 7F, 9V, 14, 18C, 19F và 23F (như hội chứng nhiễm trùng, viêm màng não, viêm phổi, nhiễm khuẩn huyết và viêm tai giữa cấp) và ngừa viêm tai giữa cấp gây bởi Haemophilus influenzae không định tuýp.
Chủng ngừa vắc xin sớm cho trẻ từ 6 tuần tuổi là một trong những biện pháp hữu hiệu phòng ngừa bệnh do phế cầu khuẩn. Việc tiêm chủng vắc xin sớm cho trẻ ngay từ giai đoạn sơ sinh để phòng các loại bệnh do phế cầu gây ra là biện pháp quan trọng nhằm chống lại nguy cơ nhiễm phế cầu, tăng cường bảo vệ trẻ trước nguy cơ dịch bệnh.
Theo số liệu thống kê năm 2015 của WHO cho thấy, vắc xin phế cầu khuẩn đã giúp 6-7,5 triệu trường hợp nhiễm phế cầu khuẩn được ngăn chặn, và cứu sống khoảng 290.000 trẻ dưới 5 tuổi. Chủ động phòng ngừa, bảo vệ con trước tác nhân gây hại phế cầu khuẩn để con yêu phát triển khỏe mạnh.
Hãy bảo vệ con khỏi 4 bệnh  nguy hiểm và phổ biến cho vi khuẩn phế cầu
Viêm màng não: nhiễm khuẩn trên lớp màng bảo vệ bao phủ não bộ và tuỷ sống. Cứ 4 trẻ thì có 1 trẻ bị viêm màng não co thể dẫn tới di chứng vừ hay nặng.
Viêm tai giữa: Nhiễm khuẩn tại tai giữa gọi là viêm tai giữa cấp, gây đau đớn và mệt mỏi ở trẻ.
Nhiễm khuẩn huyết: nhiễm khuẩn ở trong máu, là tình trạng cấp cứu, có thể dẫn đến các biến chứng nghiêm trọng, ảnh hưởng đến các cơ quan bộ phận trong cơ thể.
Viêm phổi: nhiễm khuẩn tại phổi có thể dẫn đến hậu quả nghiêm trọng là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi.
 BÉ GÁI 5 THÁNG TUỔI SUÝT CHẾT VÌ BỆNH THƯỜNG GẶP VÀO MÙA LẠNH, ĐỪNG ĐỂ TRẺ CHẾT VÌ CĂN BỆNH CÓ THỂ PHÒNG NGỪA!
Viêm phế quản phổi là một trong những bệnh hô hấp phổ biến nhất trong mùa lạnh. Do đối tượng bệnh chủ yếu là trẻ nhỏ, sức đề kháng kém nên cha mẹ rất lo lắng, tìm mọi cách điều trị cho con. Tuy nhiên, nếu chăm con không đúng cách có thể khiến bệnh tình của trẻ thêm trầm trọng…
Đừng mất con vì cha mẹ thiếu hiểu biết
 Bé gái 5 tháng tuổi suýt chết vì bệnh thường gặp vào mùa lạnh, đừng để trẻ chết vì căn bệnh có thể phòng ngừa!
Đây là bé Bonnie (sống ở Anh), 5 tháng tuổi, bé được bác sĩ chẩn đoán là cảm lạnh thông thường với các dấu hiệu ho, khó thở và tim đập nhanh, sau đó cho về nhà điều trị. Nhưng chỉ sau vài giờ Bonnie trở về nhà, các cơn ho kéo dài hơn và tình trạng khó thở ngày càng trở nên trầm trọng. Mẹ bé vội vã đưa con quay trở lại bệnh viện, tưởng như không kịp vì Bonnie đã có lúc ngừng thở khi đang ở trên xe cấp cứu, mức oxy của bé giảm mạnh và nhịp tim tăng vọt. Con bé gần như đã bước vào cửa tử.
Bé gái 5 tháng tuổi suýt chết vì bệnh thường gặp vào mùa lạnh, đừng để trẻ chết vì căn bệnh có thể phòng ngừa!
Cô bé Bonnie khi được hơn 4 tháng tuổi
Có rất nhiều bậc cha mẹ cũng giống như mẹ bé Bonnie: không bao giờ biết hoặc không tin rằng cảm lạnh có thể giết chết một đứa trẻ. Họ thường lo lắng về các bệnh nguy hiểm như viêm màng não, sởi, quai bị… và cho rằng ho, viêm phế quản chỉ là những bệnh vặt phổ biến mà đứa trẻ nào cũng mắc phải vào mùa lạnh. Nhưng, thực tế cho thấy cảm lạnh có thể gây biến chứng thành viêm phế quản phổi và nếu cha mẹ coi nhẹ, bệnh có thể chuyển biến nghiêm trọng dẫn đến tử vong. Như trường hợp của Bonnie, ban đầu bé chỉ bị cảm lạnh, sau đó đã bị bội nhiễm và dẫn đến biến chứng viêm phế quản phổi – một loại bệnh nhiễm trùng đường hô hấp phổ biến ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ gây nhiễm trùng huyết, nguy hiểm tới tính mạng.
Bé gái 5 tháng tuổi suýt chết vì bệnh thường gặp vào mùa lạnh, đừng để trẻ chết vì căn bệnh có thể phòng ngừa!
Hàng trăm trẻ nhập viện mỗi ngày vì bệnh hô hấp
TS.BS Trần Anh Tuấn, Trưởng khoa Hô hấp Bệnh viện Nhi đồng 1 cho biết: “Tại khoa Hô hấp của bệnh viện, mỗi ngày có từ 240-250 trẻ điều trị các bệnh hô hấp. Có những thời điểm, số lượng trẻ nhập viện lên đến 300 em”. Bệnh viện Nhi đồng 1 (BVNĐ1) TP.HCM bắt đầu quá tải bởi bệnh nhi nhập viện quá đông, nguyên nhân là thời tiết chuyển lạnh bất thường nên số lượng bệnh nhi nhập viện có dấu hiệu gia tăng trở lại. Tại Bệnh viện Nhi đồng 2 (BVNĐ2), tình trạng trẻ nhập viện vì nhiễm lạnh cũng tăng, có khoảng 500 trẻ điều trị các bệnh về đường hô hấp. Hai bệnh phổ biến mà nhiều trẻ mắc phải trong đợt này là viêm phổi và viêm phế quản.
Chị Lan Phương (quận 7) chia sẻ, con trai chị mới 8 tháng bị viêm phế quản phổi phải nằm viện điều trị. Bé phải dùng đến kháng sinh liều mạnh, nhưng trái gió trở trời là bệnh lại tái phát. Sau 2 tuần nặm viện, bé được cho xuất viện nhưng vừa về nhà 3 ngày lập tức phải quay trở lại viện vì bệnh trầm trọng hơn, phải thở ôxy. Mất thêm 10 ngày sau, bé mới ổn định và xuất viện. Nhìn tay chân con tím bầm vì lấy ven, chị Phương sụt sùi lo lắng mấy ngày cuối năm thời tiết trở lạnh, chỉ lo bệnh của con tái phát, hai mẹ con ăn tết trong bệnh viện thì khổ…
Bệnh có thể phòng ngừa bằng nhiều cách
* Triệu chứng bệnh:
Bệnh viêm phế quản phổi ở trẻ em giai đoạn đầu thường bị các bậc cha mẹ nhầm với các bệnh hô hấp khác như ho, viêm họng. Trẻ sẽ có biểu hiện thông thường như sốt nhẹ, ho húng hắng, chảy nước mắt và nước mũi, khò khè, ăn kém, bỏ bú, quấy khóc… Nếu không được điều trị đúng, trẻ có thể diễn biến nặng hơn với biểu hiện sốt cao, ho tăng lên, có đờm, khó thở, thở nhanh, rút lõm lồng ngực, bỏ bú hoặc bú kém, tím môi, tím đầu chi. Trẻ mệt mỏi, quấy khóc, có thể bị tiêu chảy, nôn, đau bụng. Giai đoạn kịch phát trẻ sẽ hôn mê nếu không hạ sốt kịp thời, biến chứng suy hô hấp, viêm phổi, xẹp phổi, nguy kịch tính mạng.
* Nguyên nhân gây bệnh:
Có nhiều nguyên nhân gây ra bệnh viêm phế quản phổi ở trẻ như: do phế cầu khuẩn, do Hib, do trẻ bị cúm và bội nhiễm dẫn đến viêm phế quản phổi, do môi trường sống kém vệ sinh, ô nhiễm không khí, thời tiết lạnh, hay trong giai đoạn chuyển mùa thì sức đề kháng của trẻ cũng kém hơn hoặc trong gia đình có người hút thuốc lá, người bị bệnh lao. Với những trẻ bị suy dinh dưỡng, thiếu chất, không chích ngừa đầy đủ… cũng rất dễ mắc căn bệnh này.
* Phương pháp điều trị
Khi nhà có trẻ bị viêm phế quản phổi, cha mẹ tuyệt đối không tự điều trị bằng thuốc kháng sinh, thuốc giảm ho một cách tuỳ tiện vì có thể sẽ khiến bệnh tình trở nặng, kháng thuốc hoặc bất cẩn khiến con rơi vào nguy kịch như bé Bonnie ở trên. Trẻ cần được thăm khám để bác sĩ kê đơn phù hợp vào nguyên nhân gây bệnh. Các bác sĩ cảnh báo cha mẹ cần phải cho trẻ nhập viện sớm nếu trẻ ho, sổ mũi có kèm theo một trong những dấu hiệu:
  • Có rút lõm lồng ngực (phần giữa bụng và ngực lõm vào khi trẻ hít vào).
  • Thở mệt, cánh mũi phập phồng, da niêm tím tái.
  • Thở khò khè hay thở rít khi nằm yên.
  • Không uống được, co giật hoặc li bì khó đánh thức.
* Cách phòng ngừa bệnh
Cách phòng ngừa tốt nhất bệnh viêm phế quản phổi là cho trẻ chích ngừa đầy đủ, đúng lịch những vắc xin cần thiết để phòng tránh bệnh viêm phế quản phổi ở trẻ. Các vắc xin cần thiết để ngừa bệnh  bao gồm:
  • Những vắc xin cộng hợp có chứa Hib: 6in1 Infanrix Hexa, 5in1 Pentaxim, hoặc vacxin đơn Quimi-Hib
  • Synflorix phòng những bệnh do phế cầu khuẩn
  • Cúm: Influvac, Vaxigrip
* Chăm sóc trẻ đúng cách trong mùa lạnh
  • Hạn chế cho trẻ ra ngoài trong thời tiết giá lạnh, đặc biệt là khoảng thời gian từ 21 giờ hôm trước đến 6 giờ hôm sau. Nếu phải ra ngoài cần chú ý mặc ấm; luôn giữ cơ thể khô ráo, tránh bị ẩm ướt, đặc biệt là vùng cổ, tay, chân để hạn chế các bệnh do cảm lạnh.
  • Tránh tiếp xúc với khói thuốc, khói bếp than, lông chó mèo.
  • Giữ vệ sinh cho trẻ. Với trẻ lớn: cần vệ sinh miệng, họng sạch sẽ thường xuyên cho trẻ; súc miệng bằng nước ấm có pha muối loãng; thường xuyên rửa tay với xà phòng. Với trẻ nhũ nhi: cần vệ sinh tai – mũi họng thường xuyên.
  • Cho trẻ ăn uống đủ chất đảm bảo năng lượng cho cơ thể chống rét; bổ sung đủ 4 nhóm chất cơ bản trong bữa ăn hàng ngày (như tinh bột, chất béo, chất đạm, vitamin và khoáng chất).

  TIÊM PHÒNG UỐN VÁN: ĐỢI ĐẾN KHI CÓ VẾT THƯƠNG  MỚI ĐI TIÊM THÌ ĐÃ MUỘN!

Một nghịch lý đáng buồn là dù trong vòng 20 năm, nguy cơ tử vong của người bệnh uốn ván trên thế giới giảm từ 50% xuống còn dưới 5% nhưng ở Việt Nam người bị uốn ván tử vong lại ngày càng gia tăng. Vào thời điểm này, ở Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới TP.HCM, bệnh nhân nằm xếp lớp để thở máy chỉ vì chủ quan, đợi đến khi bị thương mới đi “chữa bệnh”… và với nhiều trường hợp, đến viện cũng đã muộn!
Hôn mê sâu, tính mạng bị đe dọa vì… té trầy đầu gối!
Theo công bố mới nhất của Bệnh viện Nhiệt đới TP.HCM, chỉ tiêu giường bệnh ở khoa Cấp cứu, Hồi sức tích cực & chống độc người lớn của bệnh viện là 20 giường, nhưng số ca uốn ván thở máy chiếm đến 25. Tất cả bệnh nhân ở đây phải nằm xếp lớp… thở máy.
Có bệnh nhân tình trạng khá nặng, các bác sĩ phải mở khí quản (mổ một lỗ nhỏ ở cổ), hỗ trợ thở máy để duy trì sự sống. Đó là bệnh nhân N.T.M. (36 tuổi, nhà ở tỉnh Tây Ninh). Chị M. bị té xe trầy xước đầu gối, dù đã đến trạm xá để xử lý vết thương nhưng vết thương vẫn mưng mủ, sưng đỏ tấy. Vài ngày sau chị M. bị cứng miệng, gồng cứng người, không thể ăn uống. Gần 2 tháng nằm bất động trong bệnh viện, chị M. lại thêm vết lở loét sau lưng. Tình trạng của chị không mấy khả quan…
Chị M. không phải trường hợp điển hình bị nhiễm trùng uốn ván nguy kịch tính mạng chỉ vì một vết thương rất nhỏ. Nguy cơ bị uốn ván nhiều khi chỉ đến từ việc làm cá, lột nhẫn đeo tay… hay do cây tăm xỉa răng hay cây ngoáy tai bình thường nhà nào cũng có. Bà N.T.T.C., 62 tuổi, chỉ lột chiếc nhẫn đeo bị chật ở tay, bị trầy xước, đến nửa đêm bà than khó thở rồi bị cứng hàm, cứng cổ, cứng lưng, tứ chi bất động… Dù được cấp cứu ngay sau đó nhưng bà vẫn hôn mê. Anh L.V.M., 41 tuổi, ngụ ở Q.8, TP.HCM bị viêm nướu, do xỉa răng hơi mạnh nên nướu bị chảy máu. Cứ nghĩ chỉ bị chảy máu chân răng bình thường, anh M. không thể ngờ được sau gần một tháng, chỗ nướu bị thương sưng to khiến anh khó mở miệng. Cơn co cứng lan nhanh từ hàm xuống cổ, lưng, tứ chi vì uốn ván khiến anh không thể cử động…
 Tiêm phòng uốn ván: Đợi đến khi có vết thương mới đi tiêm thì đã muộn!
Khoa Cấp cứu, Hồi sức tích cực & chống độc người lớn ở Bệnh viện Nhiệt đới TP.HCM chỉ có 20 giường, nhưng hiện nay đang quá tải vì số ca uốn ván thở máy chiếm đến 25. Trung bình mỗi ngày Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới TP.HCM tiếp nhận 1 ca nhập viện do uốn ván. (Ảnh: báo PNO)
Bệnh uốn ván và nguy cơ chết người vì khan hiếm thuốc chữa
Bệnh uốn ván (tetanus) là một nhiễm khuẩn nguy hiểm, có tỷ lệ tử vong cao, gây ra bởi ngoại độc tố (tetanus exotoxin) của vi khuẩn uốn ván (Clostridium tetani) phát triển tại vết thương trong điều kiện yếm khí. Vi khuẩn thường tạo nha bào uốn ván, nha bào này xâm nhập vào cơ thể qua các vết thương sâu bị nhiễm đất bẩn, bụi đường, phân người hoặc phân súc vật, qua các vết rách, vết bỏng, vết thương dập nát, vết thương nhẹ, hoặc do tiêm chích nhiễm bẩn…, sau đó giải phóng ngoại độc tố vào máu và tấn công vào các bản vận động thần kinh – cơ, làm cho bệnh nhân bị co cứng cơ và trên nền cứng đó xuất hiện các cơn co giật.
Bệnh khởi phát sau chấn thương, trung bình là 7 ngày; 15% số trường hợp khởi phát bệnh trong vòng 3 ngày và 10% khởi phát bệnh sau 14 ngày. Uốn ván toàn thân là thể bệnh hay gặp nhất. Có thể nhận thấy ca bệnh uốn ván ở người lớn và trẻ em ở các biểu hiện lâm sàng đặc trưng bởi tăng trương lực cơ và các cơn co cứng với các thể điển hình như sau:
  • Co cứng cơ nhai và các cơ ở mặt làm cho bệnh nhân có nét mặt “cười nhăn”;
  • Co cứng cơ gáy, cơ lưng, cơ bụng, đôi khi co cứng ở vùng bị thương;
  • Cong ưỡn người ra sau, thẳng cứng cả người như tấm ván, cong người sang một bên, gập người ra phía trước;
  • Các cơn co giật toàn thân thường xảy ra do bị kích thích bởi va chạm, ánh sáng chói, tiếng ồn…
  • Đối với những trẻ bị uốn ván sơ sinh sẽ có biểu hiện quấy khóc, bỏ bú, miệng chúm chím, trẻ đói nhưng không bú được nên càng khóc, lúc này nếu đè lưỡi ấn xuống thì thấy phản ứng lại (dấu hiệu cứng hàm). Sau đó trẻ có những cơn co giật và co cứng, uốn cong người, đầu ngả ra sau, hay tay khép chặt kèm theo sốt, rối loạn tiêu hóa.
Để điều trị bệnh uốn ván khi đã có các biểu hiện lâm sàng như mô tả trên, hiện có 2 loại thuốc gồm hoạt chất diazepam và midazolam, dùng để tiêm trực tiếp vào tĩnh mạch bệnh nhân. Mỗi ngày, bệnh nhân sẽ được tiêm 12 ống vào cơ thể. Nhưng nguồn thuốc bị thiếu do đây là loại thuốc hướng tâm thần, được xếp vào nhóm thuốc kiểm soát chặt chẽ nên ít công ty được phép nhập về Việt Nam. Do đó, nhiều bệnh viện không có đủ thuốc để điều trị cho bệnh nhân trong thời điểm này, khiến tính mạng của nhiều người bị đe doạ.
Bệnh dễ phòng, khó chữa nên cần chích vắc xin phòng bệnh
ThS. BS Nguyễn Hiền Minh, Trung tâm tiêm chủng Trẻ em và Người lớn VNVC cho biết: “Có rất nhiều yếu tố thông thường khiến gia tăng nguy cơ uốn ván, trong đó bao gồm: hệ miễn dịch kém; vết thương hở như xăm mình, xỏ khuyên trong điều kiện vô trùng kém, vết tiêm; bỏng lan rộng; vết thương do phẫu thuật; nhiễm trùng tai; vết cắn của động vật; vết loét bị nhiễm trùng ở chân… Hơn nữa, bệnh có thể gặp bất kỳ thời gian nào trong năm, không mang tính chất mùa rõ rệt. Khi bị nhiễm trùng uốn ván, người bệnh sẽ bị tăng trương lực và co cứng cơ, co giật, suy hô hấp, loạn nhịp tim, suy tim… dẫn đến ngưng thở và tử vong”.
“Bệnh uốn ván rất dễ phòng, nhưng lại khó chữa. Ngừa bệnh rất rẻ nhưng chi phí điều trị có khi lên cả trăm triệu đồng cũng chưa chắc giữ được tính mạng. Do đó, chích ngừa chủ động phòng bệnh uốn ván là việc nên làm. Phụ nữ chuẩn bị mang thai hoặc đang mang thai cần tiêm ngừa uốn ván để phòng bệnh uốn ván sơ sinh cho con. Từ 2 tháng tuổi, trẻ được tiêm những vắc xin cộng hợp (6in1, 5in1) trong đó có chứa kháng nguyên bảo vệ trẻ phòng bệnh uốn ván. Trẻ 2 tháng tuổi bắt đầu tiêm mũi đầu, 2 mũi sau tiêm cách nhau 1 tháng và chích mũi nhắc khi trẻ được 15-18 tháng tuổi. Đối với trẻ em trên 15 tuổi và người lớn cũng cần chích nhắc vì kháng thể uốn ván qua lứa tuổi này sẽ không còn khả năng ngừa được bệnh. Với những người bị thương nhưng chưa tiêm phòng uốn ván, ngay sau khi xử lý vết thương nên đến ngay cơ sở y tế càng sớm càng tốt để tiêm vắc xin uốn ván và huyết thanh kháng uốn ván”, bác sĩ Minh nói thêm.
Tiêm phòng uốn ván: Đợi đến khi có vết thương mới đi tiêm thì đã muộn!
Trẻ được chích ngừa tại Trung tâm tiêm chủng Trẻ em và Người lớn VNVC
Ngoài ra, người dân cần biết cách xử lý khẩn cấp khi bị thương bằng cách:
– Xử lý vết thương đúng cách: khi mới có vết thương dù lớn hay nhỏ, cần dùng nước sạch rửa ngay hoặc rửa dưới vòi nước để pha loãng vi khuẩn và đẩy chất bẩn ra ngoài. Nếu vết thương chảy máu và dính nhiều bùn, đất, cát, thì nên dùng ôxy già để sát khuẩn, đẩy các hạt bụi, cát bẩn ra và cầm máu. Tiếp theo là rửa lại vết thương bằng xà phòng rồi lau khô. Lưu ý, với vết thương hở, không được bôi cồn 90 độ, i-ốt (betadine, povidine)  trực tiếp vào vết thương để tránh làm tổn thương mô.
– Với vết thương có dị vật thì rửa tay sạch rồi lấy dị vật ra, băng bó vết thương và thay băng hàng ngày. Nếu dị vật to hoặc nằm sâu thì nên đến cơ sở y tế xử lý dị vật.
– Nếu vết thương xuất hiện những dấu hiệu như đau tăng dần, phù nề, sưng phồng, đỏ vùng da quanh vết thương, có dịch nhầy từ vết thương, vết thương bốc mùi khó chịu, hạch sưng, vết thương lâu lành hoặc không lành… bệnh nhân cần đến bệnh viện ngay vì có thể vết thương đã nhiễm trùng. Tuyệt đối không tự chữa bằng các phương pháp dân gian như đắp thuốc rê, thuốc bột…
Thông tin về các vắc xin phòng uốn ván:
Vắc xin phòng uốn ván cho phụ nữ chuẩn bị mang thai: Vắc xin Adacel – là vắc xin kết hợp 3 thành phần giải độc tố uốn ván hấp phụ; giải độc tố bạch hầu liều thấp hấp phụ và ho gà vô bào. Adacel được chỉ định sử dụng làm mũi nhắc 1 liều duy nhất cho trẻ em từ 4 tuổi trở lên và người lớn để phòng các bệnh uốn ván, bạch hầu và ho gà.
Vắc xin phòng uốn ván cho bà bầu: tiêm VAT 2 mũi, nên tiêm vào 3 tháng giữa và 3 tháng cuối thai kỳ, mũi tiêm cuối nên tiêm trước khi sinh 1 tháng
Vắc xin phòng uốn ván cho trẻ em: PENTAXIM – Vắc xin 5 trong 1 (Phòng 5 bệnh: Ho gà, bạch hầu, uốn ván,bại liệt và các bệnh do HIB) hoặc INFANRIX – Vắc xin 6 trong 1 (Phòng 6 bệnh: Ho gà, bạch hầu, uốn ván, bại liệt, viêm gan B và các bệnh do HIB):
Huyết thanh phòng uốn ván SAT: được dùng để phòng ngừa uốn ván ở người vừa mới bị vết thương có thể nhiễm bào tử uốn ván, bao gồm những người không tiêm ngừa uốn ván trong 10 năm gần đây, hoặc không nhớ rõ lịch tiêm uốn ván. Liều 1500 UI/ml nên được tiêm càng sớm càng tốt ngay sau khi bị thương. Trẻ em và người lớn dùng liều như nhau.

Cách chữa lành vết thương nhanh chóng và hiệu quả bằng mật ong

Mật ong là phương pháp điều trị kháng sinh được nhiều nước trên thế giới ghi chép lại và công nhận từ hàng nghìn năm trước, trong cả thời kỳ Chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Các bác sĩ và chuyên gia y tế ngày nay cũng nhận thấy những lợi ích của mật ong trong điều trị vết thương cùng nhiều vấn đề khác. Mật ong không chỉ giúp tiêu diệt vi khuẩn mà còn duy trì độ ẩm cho vết thương và hoạt động như một "hàng rào bảo vệ". Bên cạnh đó, mật ong còn giúp giảm viêm nhiễm và thúc đẩy quá trình phục hồi vết thương cùng các vấn đề khác về da. Hãy mua mật ong (tại địa phương hoặc loại bán sẵn) để tại nhà, bạn có thể dùng mật ong làm thuốc kháng sinh ngay tại chỗ đối với các vết thương hoặc bệnh về da như mụn trứng cá chẳng hạn. Mời các bạn cùng tham khảo cách chữa lành vết thương nhanh chóng và hiệu quả bằng mật ong dưới đây nhé!

Phần 1: Thoa mật ong lên vết thương

1. Tìm đúng loại mật ong

Tìm đúng loại mật ong
Mặc dù trên thực tế có thể sử dụng bất kỳ loại mật ong nào để điều trị vết thương nhưng một số loại như mật ong Manuka (một trong những loại mật ong đặc biệt có nguồn gốc từ Úc và New Zealand) có thể làm thuốc kháng sinh tại chỗ hiệu quả hơn những loại khác như thuốc kháng sinh đắp (topical antibiotics). Bạn nên mua một ít mật ong sẵn để tại nhà sử dụng khi cần thiết.
  • Nên nhớ rằng mật ong được sản xuất tại địa phương có khả năng tiêu diệt vi khuẩn đạt hiệu quả tối đa nhất. Ngoài ra, bạn cũng có thể mua mật ong được chứng nhận y tế bởi các sản phẩm mật ong này thường có sẵn ở cửa hàng thực phẩm an toàn, chợ địa phương, thậm chí trong một số cửa hàng tạp hóa.
  • Hãy cẩn thận khi mua mật ong bên ngoài vì thường có chứa chất phụ gia hoặc xuất xứ không rõ ràng, do đó khả năng tiêu diệt vi khuẩn và chữa vết thương cũng không mấy hiệu quả. Lưu ý đọc nhãn hiệu và đảm bảo mật ong bạn mua là tinh khiết và đã được tiệt trùng.

2. Vệ sinh vết thương

Vệ sinh vết thương
Trước tiên, bạn cần làm sạch vết thương và loại bỏ tất cả các mảnh vụn trên bề mặt vết thương khi thoa mật ong. Vệ sinh vết thương giúp tiêu diệt vi khuẩn và giảm nguy cơ nhiễm trùng.
  • Đầu tiên, nhẹ nhàng rửa sạch vết thương bằng nước ấm và xà phòng. Không cần phải dùng sản phẩm đặc biệt để vệ sinh vết thương bởi tất cả các loại xà phòng đều có thể rửa sạch bụi bẩn và mảnh vụn hiệu quả như nhau. Nhớ rửa vết thương cho đến khi không còn thấy dư lượng xà phòng, bụi bẩn hoặc mảnh vụn trên bề mặt vết thương.
  • Sau đó, dùng khăn sạch lau khô vết thương.
  • Không nên loại bỏ các mảnh vụn nằm sâu bên trong để tránh vi khuẩn lây lan và tăng nguy cơ nhiễm trùng. Thay vào đó, bạn nên đi khám bác sĩ để gắp các mảnh vụn ra.

3. Băng vết thương với mật ong

Băng vết thương với mật ong
Thoa mật ong lên vết thương sau khi đã rửa sạch và lau khô. Trải đều một lớp mật ong lên miếng băng gạc, sau đó đặt băng gạc lên miệng vết thương. Cách này giúp bảo vệ vết thương và tiêu diệt vi khuẩn.
  • Thoa mật ong lên một mặt của miếng băng gạc hoặc vải sạch. Sau đó, đắp mặt được phủ mật ong lên vết thương. Lưu ý độ che phủ của miếng băng phải rộng hơn vết thương để có thể tiêu diệt vi khuẩn ở các mô xung quanh. Tránh đẩy miếng băng vào vết thương. Thay vào đó, nên ấn nhẹ hoặc chấm lên trên và xung quanh vết thương để đảm bảo mật ong tiếp xúc với da.
  • Giữ cố định miếng băng bằng băng keo y tế. Nếu không có băng keo y tế, bạn có thể sử dụng băng keo thông thường.

4. Bôi mật ong trực tiếp lên vết thương

Bôi mật ong trực tiếp lên vết thương
Nếu muốn, bạn có thể đổ mật ong trực tiếp lên vết thương. Phương pháp này giúp mật ong tiếp xúc với vết thương hiệu quả hơn nhiều.
  • Dùng ngón tay, tăm bông hoặc miếng vải sạch để trải đều hoặc rưới một lớp mỏng mật ong lên vết thương. Nếu muốn, bạn có thể đong 15 đến 30ml mật ong và đổ trực tiếp lên vết thương. Hãy nhớ phết rộng mật ong ra khu vực cận vết thương để tiêu diệt cả vi khuẩn ở các mô xung quanh. Sau đó, dùng băng sạch che vết thương lại rồi cố định bằng băng keo y tế hoặc băng keo thông thường.

5. Lặp lại quá trình điều trị

Lặp lại quá trình điều trị
Trong hầu hết các trường hợp, cứ cách 12 đến 48 tiếng (tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng và tiến độ phục hồi của vết thương) nên thoa mật ong một lần. Hãy vệ sinh vết thương sạch sẽ và thoa mật ong thường xuyên nếu cần thiết, cho đến khi vết thương lành lại. Ngoài ra, bạn nên đi khám bác sĩ nếu vết thương không lành hoặc xuất hiện các dấu hiệu nhiễm trùng như đỏ da, nóng, đau, có mủ hoặc nổi lằn đỏ.
  • Cách khoảng hai ngày, bạn nên kiểm tra một lần để đảm bảo vết thương không bị nhiễm trùng. Mỗi khi kiểm tra vết thương phải rửa tay thật sạch và đặt một miếng băng gạc mới, sạch lên vết thương.

Phần 2: Điều trị các bệnh khác bằng mật ong

1. Xoa dịu vết bỏng bằng mật ong

Xoa dịu vết bỏng bằng mật ong
Nếu bị bỏng hoặc bị cháy nắng, mật ong sẽ xoa dịu và giúp vết bỏng mau lành hơn. Thoa mật ong lên băng gạc hoặc vải sạch, sau đó đặt lên vết bỏng sẽ giúp điều trị hiệu quả hơn so với việc đổ trực tiếp mật ong lên vết bỏng. Hãy cố định miếng băng gạc bằng băng keo y tế hoặc băng keo thông thường và kiểm tra vết bỏng một cách thường xuyên.

2. Điều trị mụn trứng cá

Điều trị mụn trứng cá
Mật ong giúp dưỡng ẩm da một cách tự nhiên và tiêu diệt vi khuẩn gây mụn trứng cá. Hãy thoa một lớp mật ong mỏng lên da hoặc đắp mặt nạ bằng mật ong để điều trị, ngăn ngừa mụn trứng cá và giúp làn da trắng sáng hơn.
  • Đầu tiên, thoa đều một lớp mật ong ấm lên da mặt. Giữ nguyên từ 10 đến 15 phút, sau đó rửa sạch bằng nước ấm.
  • Tiếp theo, trộn một thìa mật ong với một thìa cà phê muối nở. Nhẹ nhàng chà xát hỗn hợp lên da để tẩy tế bào chết, làm sạch và giữ ẩm cho da. Bên cạnh đó, hỗn hợp hai thìa cà phê mật ong và một thìa cà phê nước cốt chanh tươi cũng có thể tiêu diệt vi khuẩn gây mụn trứng cá.

3. Điều trị các nốt sần trên da

Điều trị các nốt sần trên da
Một số người thường bị nổi các nốt sần trên da, đó là những cụm mô xuất hiện trên các bộ phận khác nhau của cơ thể. Việc đắp mặt nạ bằng mật ong rất hữu ích trong các trường hợp nổi sần hoặc dễ nổi sần trên da.
  • Chuẩn bị mặt nạ mật ong giúp thu nhỏ các nốt sần. Trộn một thìa cà phê mật ong với một trong bất kỳ các nguyên liệu sau: nước cốt chanh, quả bơ, dầu dừa, lòng trắng trứng hoặc sữa chua.
  • Đắp mặt nạ trong vòng vài phút, sau đó rửa sạch bằng nước ấm.

4. Tiêu diệt vi khuẩn nấm

Tiêu diệt vi khuẩn nấm
Ngoài ra, mật ong cũng có thể điều trị nhiễm nấm da hiệu quả. Bạn có thể thoa trực tiếp mật ong hoặc sử dụng băng gạc được thoa mật ong để đắp lên vùng da bị nhiễm nấm. Hơn nữa, mật ong có thể điều trị các trường hợp nhiễm nấm sau:
  • Hắc lào hay còn gọi là nấm da gây ngứa ngáy suốt ngày, rất phiền toái và khó chịu.
  • Nấm bàn chân là tình trạng nhiễm nấm ở vùng bàn chân và các kẽ ngón chân.
  • Viêm da tiết bã là tình trạng rối loạn da phổ biến chủ yếu ảnh hưởng tới da đầu, gây ra vảy, ngứa, da đỏ và gàu.

5. Trị gàu

Trị gàu
Bên cạnh đó, cũng có bằng chứng cho thấy mật ong có thể làm giảm tình trạng gàu và viêm da tiết bã – vấn đề mãn tính liên quan đến gàu. Hơn nữa, bạn có thể cân nhắc việc thường xuyên đắp mật ong lên các mảng gàu để trị gàu và ngăn ngừa gàu quay trở lại.
  • Pha dung dịch gồm 90% mật ong và 10% nước. Dùng dung dịch đó chà xát lên khu vực bị gàu trong vòng 2-3 phút. Giữ nguyên trong 3 tiếng, sau đó gội sạch đầu bằng nước ấm. Lặp lại phương pháp điều trị này mỗi ngày và liên tục trong hai tuần hoặc cho đến khi sạch gàu.
  • Tiếp tục áp dụng phương pháp một tuần một lần để ngăn ngừa gàu quay trở lại.

6. Điều trị ngứa

Điều trị ngứa
Phát ban dị ứng, bệnh vảy nến và viêm da cơ địa có thể gây ngứa da hoặc bệnh ngứa. Tình trạng này có thể gây đau, kích ứng da và thường trở nên nặng hơn vào ban đêm. Thoa mật ong lên khu vực bị ảnh hưởng giúp giảm ngứa và ngăn ngừa nhiễm trùng.
  • Thoa một lớp mật ong mỏng lên vùng da bị ngứa, có thể che khu vực được thoa mật ong lại hoặc giữ nguyên như vậy. Tuy nhiên, bạn nên che lại nếu đang mặc quần áo hoặc ngủ trên giường để mật ong không bị dính vào vải.

Intro ReePlus

Intro ReePlus